Thứ Ba, Tháng Tư 23, 2024
HomeNGƯỜI NGHỆ TĨNHCác nhà thơ lớn ở Nghệ Tĩnh

Các nhà thơ lớn ở Nghệ Tĩnh

  1. Nhà thơ Hồ Chí Minh 

Hồ Chí Minh (19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969) ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, là một nhà cách mạng và chính khách người Việt Nam. Ông là người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, từng là Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những năm 1945–1955, Chủ tịch nước từ năm 1951 đến khi qua đời.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà cách mạng vĩ đại mà còn là một nhà văn, nhà thơ lớn. Người đã để lại cho dân tộc Việt Nam di sản văn học có giá trị, gắn liền với tiến trình phát triển của cách mạng và đời sống tinh thần của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh không hề có ý định xây dựng cho mình một sự nghiệp văn chương và Người cũng không bao giờ tự nhận mình là nhà văn, nhà thơ hay nghệ sỹ mặc dù Bác rất yêu văn thơ và cũng rất đỗi tài hoa. Trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, với lòng yêu nước cháy bỏng, Bác đã quyết tâm tìm đường giải phóng dân tộc và trên con đường hoạt động cách mạng đầy gian khổ ấy, Người nhận ra rằng, văn chương cũng có thể là vũ khí đấu tranh cách mạng. Vì vậy, Người đã dùng văn chương như một vũ khí để phục vụ cách mạng và đã trở thành nhà văn, nhà thơ lớn ngoài ý muốn của mình.

Theo thời gian nhà thơ vĩ đại của chúng ta có những tác phẩm luôn đi theo với thời gian. Những tác phẩm và thi sĩ ấy sẽ mãi trong lòng của những con người yêu thơ ca nói riêng và những người con yêu dân tộc nói chung.

2. Đại thi hào – Danh nhân văn hóa Thế giới Nguyễn Du

Nguyễn Du (1765-1820) ông sinh ra tại ngôi làng nổi tiếng với dòng họ Nguyễn, làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông được xem như là một nhà thơ lớn nhất Việt Nam từ trước đến nay, người Việt kính trọng gọi ông là “Đại thi hào dân tộc”. Năm 1965, ông được UNESCO tôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới. Nguyễn Du cùng Nguyễn Trãi và Chủ Tịch Hồ Chí Minh Là một trong ba người danh nhân văn hóa thế giới của Việt Nam cho đến thời điểm này.

Đại thi hào Dân tộc nguyễn Du

Các tác phẩm của ông như “Thanh hiên thi tập”, “Nam trung tạp ngâm”, “Bắc hành tạp lục”(chữ Hán)và đặc biệt là Truyện Kiều chan chứa nỗi đau nhân thế, mang khát vọng hạnh phúc, tình yêu, tự do và công lý đồng thời tố cáo sâu sắc sự tàn bạo của chế độ phong kiến. Truyện Kiều, đỉnh cao của nền thi ca Việt Nam, chứa đựng những tư tưởng nhân văn lớn, đạt tới sự hoàn mỹ về nghệ thuật ngôn từ. Ít có tác phẩm ngay khi ra đời cho đến mãi mãi về sau vẫn được nhân dân cả nước yêu chuộng như Truyện Kiều. Không phải chỉ yêu thích mà còn gửi gắm niềm tin. Niềm tin khẳng định sức mạnh ngôn ngữ và văn hóa dân tộc. Niềm tin chia sẻ kinh nghiệm văn chương, nghệ thuật. Nhưng nhất là niềm tin về tình yêu và cuộc sống. Truyện Kiều đã là một bài ca tình yêu và là một cuốn sách Đời.

3. Nhà thơ Huy Cận

Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919, trong một gia đình nhà nho nghèo gốc nông dân dưới chân núi Mồng Gà, bên bờ sông Ngàn Sâu (thượng nguồn sông La) ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn sau đó thuộc huyện Đức Thọ (nay là xã Ân Phú, huyện Vũ Quang), tỉnh Hà Tĩnh. Ông  là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của phong trào Thơ mới. Ông là bạn tâm giao của Xuân Diệu, một nhà thơ nổi tiếng khác của Việt Nam.

Nhà thơ Huy Cận

Huy Cận là nhà thơ lớn của dân tộc, là cán bộ cao cấp của Chính phủ và cũng là con người của đời thường bình dị. Ở Huy Cận có sự thống nhất hài hoà của nhiều phẩm chất, năng lực như là đối cực. Ông có tầm nhìn chiến lược và tính cẩn trọng của một nhà lãnh đạo nhưng cũng rất tinh tế, đa cảm, lãng mạn và đam mê của một thi sĩ tài hoa. Ông là người uyên bác, hiểu biết sâu sắc nhiều lĩnh vực: Triết học, tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn hoá nhưng vẫn không quên những việc đời thường.

Nhà thơ Huy Cận không chỉ là một đại biểu xuất sắc của phong trào thơ mới mà ông còn là một nhà thơ lớn của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Con đường thơ của Huy Cận khá tiêu biểu cho lớp nhà thơ thuộc thế hệ thứ nhất, văn học Việt Nam hiện đại. Từ một thành viên xuất sắc của phong trào thơ Mới, Huy Cận đến với Cách mạng, tìm thấy mục đích, lý tưởng chân chính cho tiếng nói nghệ thuật của mình và trở thành một trong những nhà thơ tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại. Các tập thơ: Lửa thiêng, Vũ trụ ca…

4. Nhà thơ Hồ Xuân Hương

Nhà thơ Hồ Xuân Hương sinh vào khoảng cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Năm sinh và năm mất cũng như tiểu sử về bà không được các tài liệu ghi chép rõ ràng.

Nhiều tài liệu ước chừng, Hồ Xuân Hương sinh trong khoảng năm 1745-1780 và mất khá lâu trước năm 1842. Bà chỉ thực sự được hậu thế biết đến qua sách Giai nhân dị mặc của học giả Nguyễn Hữu Tiến, xuất bản năm 1916.

Nhà thơ Hồ Xuân Hương

Theo sách Từ điển Văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ 19 (Nhà xuất bản Văn học, 2018), Hồ Xuân Hương là con của ông Hồ Phi Diễn, một nhà nho ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông bỏ quê ra dạy học ở Hải Dương, Kinh Bắc, lấy một cô gái họ Hà làm vợ lẽ mà sinh ra Hồ Xuân Hương.

Hồi nhỏ, bà từng sống ít năm ở quê với cha, nhưng từ khi cha mất, bà sống với mẹ ở Thăng Long. Lúc đầu, bà sống ở huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây, sau đó chuyển huyện Thọ Xương (bây giờ là phố Nhà Thờ). Khi trưởng thành, bà làm một ngôi nhà nhỏ ở hồ Tây, lấy tên Cổ Nguyệt Đường, là nơi tiếp các bậc tao nhân mặc khách, cùng họ xướng họa, bình thơ.

Hồ Xuân Hương vốn thông minh, sắc sảo, ứng biến nhanh lại rất mực tài hoa, song cuộc đời gặp nhiều éo le. Bao nhiêu nỗi niềm bà gửi hết vào thơ. Bà được nhiều người mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm” không chỉ bởi số lượng tác phẩm mà còn vì nghệ thuật điêu luyện với ý tưởng sâu sắc. Các tác phẩm thơ Nôm của bà hiện còn nhiều bài ở mảng thơ Nôm truyền tụng, nổi tiếng nhất là bài Bánh trôi nước.

Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

Hiện có nhiều dị bản tác phẩm trên. Các bản gốc về thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương đều viết câu đầu là “Thân em vừa trắng phận thì tròn”. Bài thơ Bánh trôi nước đã được phổ nhạc.

5. Nhà thơ Xuân Diệu

Nhà thơ Xuân Diệu thật là Ngô Xuân Diệu, còn có bút danh là Trảo Nha, quê quán làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Xuân Diệu (2 tháng 2, 1916 – 18 tháng 12, 1985) là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam. Ông nổi tiếng từ phong trào Thơ mới với tập “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió”. Những bài được yêu thích nhất của Xuân Diệu là thơ tình làm trong khoảng 1936 – 1944, thể hiện một triết lý bi quan, tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực sức sống. Nhờ đó, ông được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình”. Ông từng được Hoài Thanh và Hoài Chân đưa vào cuốn Thi nhân Việt Nam (1942).

Nhà thơ Xuân Diệu

Xuân Diệu thường được biết đến với những bài thơ tình của ông nhưng chúng ta cũng đã quên mất chính Xuân Diệu cũng là nhà thơ của dòng thơ cách mạng. Trong sự nghiệp thơ ca của Xuân Diệu, ông có một sự chuyển mình trong lý tưởng cũng như tình cảm của mình khi từ một nhà thơ tình lãng mạn chuyển sang thơ ca cách mạng.

Trong giai đoạn sau cách mạng Tháng 8, thơ của Xuân Diệu đã đi từ phần tình cảm nhỏ bé của cá nhân lên một tầm cao mới đó là tình cảm chung của nhân loại. Đối với Xuân Diệu ông vẫn yêu tình yêu cá nhân nhưng ông vẫn dành một phần cho Đất nước và đó lại là phần nhiều trong trái tim ông.

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

TIN KHÁC